Các tin khác

Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015 và cơ chế tổ chức thực hiện đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận trong giảm nghèo, tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ giảm từ xấp xỉ 60% năm 1993 xuống còn xấp xỉ 16% năm 2006. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo của các dân tộc thiểu số chậm hơn so với mức trung bình. Năm 2006, khoảng 52% hộ dân tộc thiểu số sống dưới mức nghèo khổ, trong khi đó tỷ lệ nghèo của nhóm Kinh và Hoa là gần 10%. Tỷ lệ hộ nghèo là dân tộc thiểu số có xu hướng tăng liên tục theo thời gian. Năm 1993, chỉ có 18% số hộ nghèo là các hộ gia đình dân tộc thiểu số; con số này tăng lên đến 29% năm 1998, 39% năm 2004, và gần đây nhất là 47% năm 2006.

1. Các chương trình giảm nghèo và phát triển giai đoạn 2011 - 2015 và Khung chương trình giảm nghèo quốc gia

Theo Báo cáo nghiên cứu mới nhất của UNDP (Jones et al, 2009) hiện tại đang có 41 dự án và chính sách định hướng vào việc giảm nghèo. Báo cáo cũng nêu ra những thách thức đáng kể trong việc điều phối, lồng ghép các nguồn vốn giảm nghèo cũng như các can thiệp giảm nghèo ở cả cấp Trung ương cũng như địa phương (Jones et al, 2009; CEMA, 2009). Tuy vậy, các thách thức và khó khăn trong công tác giảm nghèo cũng xuất hiện đòi hỏi có những nghiên cứu, đánh giá cụ thể, khoa học để tìm ra những phương pháp tiếp cận khoa học hiệu quả hơn nhằm triển khai tốt hơn các chương trình, dự án giảm nghèo ở Việt Nam.

Tình trạng nghèo và chậm phát triển ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 được dự báo là sẽ tập trung ở các “túi nghèo”, “lõi nghèo” như vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang ven biển hay nghèo đô thị,… (Pham, 2009). Ngoài việc cần phải có sự thay đổi cơ bản về cách tiếp cận trong giảm nghèo, giai đoạn 2011 – 2015 cũng đặt ra những nhu cầu trong việc có cách làm mới, hướng đi mới trong việc kết hợp giữa giảm nghèo đơn thuần và giảm nghèo gắn với phát triển bền vững.

Tiếp tục các cam kết mạnh mẽ trong lĩnh vực giảm nghèo và phát triển xã hội, Chính phủ đã và đang tiếp tục giao cho các Bộ, ngành liên quan thiết kế và triển khai thực hiện các chương trình giảm nghèo có quy mô lớn và toàn diện như: Chương trình Phát triển nông thôn mới, Chương trình Phát triển kinh tế xã hội các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn khu vực dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2011 – 2015, Chương trình Giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30A,… Trong số những chương trình lớn trên, ngoài Chương trình Giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30A đã triển khai thực hiện được 1 năm trên địa bàn 62 huyện nghèo thì Chương trình Phát triển nông thôn mới với tổng vốn lên đến khoảng 74.000 triệu đồng đang bao phủ rộng khắp trong phạm vi cả nước (MARD, 2009). Tuy nhiên, có thể thấy hầu hết các chương trình, dự án vẫn tiếp tục dành các khoản hỗ trợ, đầu tư vào các lĩnh vực như: phát triển sản xuất, đào tạo, dạy nghề, hỗ trợ đất đai, nhà ở, vốn tín dụng,… Thực tế trên khẳng định một nhu cầu có sự điều phối tốt hơn giữa các can thiệp giảm nghèo ở các cấp khác nhau.

Nhóm chuyên gia của UNDP trong Báo cáo tổng quan về các chính sách và dự án giảm nghèo hiện hành của Chính phủ Việt Nam (Jones et al, 2009) đã phân tích cho thấy nhu cầu hết sức cần thiết trong việc hướng tới một Khung chương trình giảm nghèo toàn diện trong phạm vi cả nước để tập trung giải quyết một cách tổng thể vấn đề nghèo đói và phát triển bền vững của Việt Nam.

Từ các thực tế trên, thay vì xây dựng một chương trình giảm nghèo cụ thể nhằm giải quyết một vào vấn đề cụ thể cần phát triển nâng tầm Chương trình MTQG Giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2015 theo hướng xây dựng một Chiến lược Khung giảm nghèo và phát triển bền vững đảm bảo:
+ Bao phủ rông về phạm vi, đối tượng (đối tượng nghèo, đối tượng cận nghèo), đủ dài về thời gian (5 năm, 10 năm, 20 năm, 30 năm) đối với vấn đề giảm nghèo và phát triển bền vững chung của Việt Nam.
+ Xác định các tiêu chí phát triển theo từng kế hoạch thời gian (chu kỳ 5 năm) để giải quyết các vấn đề cụ thể cũng từng lĩnh vực chuyên ngành của từng Bộ, ngành chuyên môn theo định hướng giảm nghèo và phát triển bền vững.
+ Định hướng về cách làm, phương pháp tiếp cận phù hợp của từng thời kỳ, từng vùng đặc thù để tạo cơ chế điều phối chung nhằm triển khai thực hiện đảm bảo mục tiêu chung giảm nghèo.
+ Quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực bảo trợ xã hội và an sinh xã hội trong bình diện quốc gia để đảm bảo sử dụng công bằng thành quả của phát triển kinh tế.

2. Giảm nghèo và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2011 - 2015

Việt Nam đã đạt được những thành tích đáng ghi nhận trong giảm nghèo, tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ giảm từ xấp xỉ 60% năm 1993 xuống còn xấp xỉ 16% năm 2006. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo của các dân tộc thiểu số chậm hơn so với mức trung bình. Năm 2006, khoảng 52% hộ dân tộc thiểu số sống dưới mức nghèo khổ, trong khi đó tỷ lệ nghèo của nhóm Kinh và Hoa là gần 10%. Tỷ lệ hộ nghèo là dân tộc thiểu số có xu hướng tăng liên tục theo thời gian. Năm 1993, chỉ có 18% số hộ nghèo là các hộ gia đình dân tộc thiểu số; con số này tăng lên đến 29% năm 1998, 39% năm 2004, và gần đây nhất là 47% năm 2006. Như vậy, dù các dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 14.5% dân số cho đến nay các dân tộc thiểu số đã chiếm gần một nửa số hộ nghèo. Có thể nói, vấn đề nghèo đói trong tương lai ở Việt nam sẽ chủ yếu là thách thức đối với các nhóm dân tộc thiểu số (Baulch et al, 2009).

Cũng giống như thực trạng chung đối với vấn đề giảm nghèo trên bình diện quốc gia, hiện nay có rất nhiều chính sách và chương trình phát triển có hướng đến các nhóm dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, rất khó để đánh giá một cách tổng hợp tác động của các chương trình hiện có đối với đời sống của hộ dân tộc thiểu số. Hơn nữa, đã xuất hiện tình trạng “chồng chéo” về chương trình, chính sách khác nhau dành cho các nhóm dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở cấp các địa phương (Pham and Reilly, 2008). Thêm vào đó, những đầu tư giảm nghèo cho nhóm đối tượng dân tộc thiểu số trong thời gian qua mới chỉ giải quyết được những “đặc điểm” nghèo phổ biến như với nhóm đa số. Thách thức phức tạp nhất trong hiểu biết hiện tại về nghèo đói của dân tộc thiểu số là nhận diện những nguyên nhân đằng sau sự khác biệt về hiệu quả thu nhập, bản chất của phát triển kinh tế xã hội từ các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau (Pham, 2009).

Trong bối cảnh trên, một chương trình tổng thể thống nhất đối với hỗ trợ phát triển dân tộc thiểu số trong thời gian tới để đảm bảo tập trung và thống nhất về mục tiêu, cách thức xác định ưu tiên, và đặc biệt là điều phối quá trình thực hiện các hoạt động hỗ trợ theo nhiều hướng khác nhau là hết sức cần thiết. Quan trọng hơn là cần xem xét được cách tiếp cận phù hợp hơn đối với nhóm đối tượng đặc thù này. Tuy vậy, cách tiếp cận tự nó chưa đủ để tạo ra hiệu quả của những chính sách, những khoản đầu tư công của chính phủ trong việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo và phát triển. Nhu cầu thực tế đòi hỏi phải có những can thiệp đặc thù đủ mạnh kết hợp với cơ chế, cách làm đặc thù phát triển đặc thù dành cho nhóm đối tượng này như:
+ Xây dựng một chương trình phát triển kinh tế xã hội tổng thể cho khu vực dân tộc thiểu số và miền núi cho giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng 2020. Tuy nhiên, các nội dung đầu tư cần tính đến sự khác biệt cơ bản và đa dạng của các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau.
+ Phân cấp hoàn toàn theo hướng trao quyền tự chủ mạnh hơn nữa cho cấp cơ sở (tập trung vào cấp xã) để có thể có được các khoản đầu tư phù hợp, chính xác hơn với nhu cầu thực tế. Cấp trung ương, tỉnh, huyện chỉ đóng vai trò định hướng, hỗ trợ.
+ Thiết lập cơ chế quản lý tài chính đặc thù theo hình thức “Quỹ tự quản” của xã đi đôi với tăng cường sự tham gia quản lý, giám sát của người dân, các tổ chức chính trị xã hội trong quá trình lập kế hoạch, triển khai thực hiện và giám sát.
+ Tiếp cận theo vùng, tiếp cận văn hóa trong tổ chức triển khai thực hiện. Nghiên cứu các mô hình, cách làm mới như tiếp cận chuỗi giá trị, sinh kế bền vững hay chuyển tiền mặt có hoặc không có điều kiện,…
+ Tiếp tục kêu gọi sự tham gia mạnh mẽ của các bên liên quan, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Huy động hiệu quả sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự trong quá trình triển khai thực hiện.

Tài liệu tham khảo
+ Baulch, B., Nguyễn Thị Minh Hòa, Nguyễn Thị Thu Phương, Phạm Thái Hưng (2009), Poverty of Ethnic Minorities in Vietnam, background paper to the Poverty Assessment 2008 led by Center for Analysis and Forecast (CAF), VASS
+ CEMA (Uỷ ban Dân tộc) (2009), Báo cáo Sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, Hà Nội.
+ Phạm Thái Hưng (2009), Một số thách thức đối với giảm nghèo của các dân tộc thiểu số, Báo cáo trình bày tại Hội thảo Xây dựng chương trình 135 giai đoạn 2011 – 2015, Tam Đảo – Vĩnh Phúc.
+ Phạm Thái Hưng, Herrera, J., Lê Đặng Trung, Razafindrakoto, M.; Roubaud, F. (2008), An Analysis if the P135-II Baseline Survey, A Research Report to UNDP and CEMA.
+ MARD (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) (2009), Báo cáo về Chương trình xây dựng nông thôn mới, Cục KTHT.
+ Jones Richard, Trần Thị Hạnh, Nguyễn Anh Phong, Trương Thị Thu Trang (2009), Các chính sách và dự án giảm nghèo của Việt Nam, Báo cáo Quốc hội và UNDP.

Hà Việt Quân
Phó Chánh VPĐP CT135 - Vụ Chính sách Dân tộc - Ủy ban Dân tộc

In ấn  Quay lại
Các tin khác:
  • Bảo Lạc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản - (14/11)
  • Quảng Ngãi: 438 học sinh nghèo hiếu học nhận học bổng từ Quỹ vì người nghèo - (13/11)
  • Xã Triệu Thuận: Nỗ lực xây dựng nông thôn mới - (13/11)
  • Mai Sơn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở cho các bản đặc biệt khó khăn - (13/11)
  • Năm 2012 giảm thêm được 10 xã nghèo - (08/11)
  • Trao đổi kinh nghiệm triển khai chương trình 135 - (08/11)
  • Sử dụng, quản lý hiệu quả nguồn vốn Chính phủ - (08/11)
  • Pác Nặm huy động nhiều nguồn lực để xóa đói, giảm nghèo - (08/11)