Các tin khác

Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang

An Giang là tỉnh miền Tây Nam bộ, thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có tổng diện tích tự nhiên 353.676 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 280.658 ha, đất lâm nghiệp 14.724 ha. Toàn tỉnh có 9 huyện, 01 thị xã, 01 thành phố với 154 xã, phường, thị trấn, có tổng dân số 2.217.488 người, 455.901 hộ.

Đua ghe ngo - một lễ hội truyền thống của người Khmer ở An Giang

Hiện nay toàn tỉnh có trên 24.011 hộ dân tộc thiểu số, với 114.632 người, chiếm 5,17% tổng dân số toàn tỉnh; có 4 dân tộc chính là Kinh, Khmer, Chăm, Hoa cùng sinh sống lâu đời, có nền văn hóa phong phú, đa dạng. Trong đó đồng bào dân tộc Khmer có 18.512 hộ, 86.592 người, chiếm tỷ lệ 75,54% so tổng số người dân tộc thiểu số và chiếm 3,9% tổng dân số toàn tỉnh, sống tập trung ở 2 huyện miền núi là Tri Tôn và Tịnh Biên, số còn lại sống rải rác ở các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn. Hầu hết đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, có mối quan hệ rộng rãi với đồng bào dân tộc Khmer các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Trong số 18.512 hộ dân tộc Khmer, có 8.417 hộ nghèo, hoàn cảnh khó khăn, với 39.371 nhân khẩu, tập trung nhiều nhất ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Nhìn chung phần lớn hộ dân tộc nghèo thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn; số hộ dân tộc nghèo không đất và thiếu đất sản xuất ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên chiếm tỷ lệ 56,13% (4.402/7.842 hộ). Số hộ dân tộc nghèo trước đây có đất, nhưng đã cầm cố cho hộ khác ở hai huyện này có xu hướng ngày càng tăng, tính đến nay có 1.156 hộ, với diện tích đất sản xuất đã cầm cố khoảng 578 ha (Tri Tôn có 548 hộ, Tịnh Biên có 608 hộ). Thu nhập bình quân đầu người của người dân tộc Khmer ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên đạt thấp (khoảng 292.000 - 333.000 đồng/người/tháng, từ 3,5 - 4 triệu đồng/người/năm); đặc biệt hộ dân tộc Khmer nghèo có mức thu nhập quá thấp, bình quân dưới 120.000 đồng/người/tháng (khu vực nông thôn) và dưới 150.000 đồng/người/tháng (khu vực thành thị).

Nguyên nhân nghèo của đồng bào dân tộc Khmer chủ yếu do hậu quả của chiến tranh biên giới Tây Nam, điều kiện sống ở vùng đất canh tác không thuận lợi, trình độ văn hóa kém, thiếu kiến thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, còn nhiều tập tục lạc hậu… Một bộ phận hộ nghèo dân tộc Khmer được Nhà nước cấp đất sản xuất trước đây đã cầm cố, sang nhượng, cho thuê đất và có xu hướng ngày càng gia tăng. Một số hộ vay vốn làm ăn nhưng không hiệu quả, không có khả năng thanh toán, lâm vào cảnh nợ nần chồng chất, đời sống của nhiều hộ dân tộc trong vùng đã khó khăn càng khó khăn hơn.

Trong những năm qua, toàn tỉnh nói chung và đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang nói riêng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư các chính sách phát triển kinh tế xã hội, cụ thể như: Quyết định số 816/QĐ-TTg, ngày 4/7/2001 của Thủ tướng Chính phủ về trợ giúp các hộ dân tộc Khmer nghèo không có đất hoặc thiếu đất sản xuất và hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Tổng vốn đầu tư được Chính phủ hỗ trợ là 150 tỉ đồng, trong đó đầu tư cơ sở hạ tầng là 62 tỉ đồng; cấp đất, chuộc đất sản xuất, cấp nhà tình thương và hỗ trợ các chính sách khác là 88 tỉ đồng; Chương trình 135 giai đoạn I với tổng giá trị thực hiện là 104.795 triệu đồng, trong đó, nguồn vốn Trung ương là 96.333 triệu đồng, vốn địa phương 8.462 triệu đồng. Từ năm 1999 đến năm 2005, tỉnh đã thực hiện 252 công trình; trong đó, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các xã biên giới 157 công trình, xây dựng các Trung tâm cụm xã 95 công trình. Qua 7 năm thực hiện tại An Giang, Chương trình 135 đã đem lại hiệu quả rõ rệt đối với sản xuất và đời sống cho nhân dân ở địa phương được thụ hưởng, góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt các xã biên giới, vùng dân tộc, miền núi và tác động tích cực đến các lĩnh vực xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo. Các công trình kết cấu hạ tầng đã góp phần tạo thuận lợi trong việc đi lại, học hành, trị bệnh, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa, tinh thần, giao lưu mua bán giữa các vùng, đồng thời tạo thuận lợi cho việc tổ chức lại sản xuất, làm ăn, cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo ở các địa bàn vùng dân tộc, miền núi và biên giới; Chương trình 134 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo (từ 2005 đến 2008). Tỉnh An Giang đã đầu tư tổng số tiền là 51.445 triệu đồng, trong đó vốn Trung ương hỗ trợ 41.090 triệu đồng, ngân sách tỉnh đối ứng 8.255 triệu đồng, huy động khác 2.100 triệu đồng; đã xây dựng được tổng số 5.420 căn nhà và 54 công trình nước sinh hoạt gồm 05 hệ thống cấp nước tập trung và phát triển gần 57 km đường ống cấp nước, hỗ trợ lắp đặt đồng hồ nước cho từng hộ dân tộc, đến cuối năm 2008 từ Chương trình 134 đã bổ sung thêm 4.493 hộ dân tộc được cấp nước sinh hoạt đến tận gia đình.

Tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên những năm trước đây có những biểu hiện phức tạp. Nhằm giải quyết cơ bản vấn đề để duy trì thế ổn định lâu dài, liên ngành Kế hoạch - Tài chính - Ban Dân tộc đã tham mưu cho UBND tỉnh đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đời sống, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc Khmer tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên với tổng kinh phí là 14.338 triệu đồng. Tính đến cuối năm 2008, 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên đã thực hiện hoàn thành cơ bản kế hoạch công việc đã đề ra. Bên cạnh đó, các Sở, ngành tỉnh và trên địa bàn hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên cũng đã có nhiều dự án, mô hình mẫu, điển hình về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,… đã, đang và sẽ tiếp tục triển khai thực hiện trong vùng đồng bào dân tộc góp phần tích cực vào mục tiêu giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm, tỉnh đã xây dựng Đề án Quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đến năm 2010. Đến nay, toàn tỉnh có 33 cơ sở dạy nghề, trong đó có 10 Trung tâm dạy nghề huyện, thị. Riêng đối với đồng bào dân tộc Khmer, UBND tỉnh đã có Quyết định phê duyệt Đề án thành lập Trường Trung cấp nghề Dân tộc nội trú được nâng cấp từ Trung tâm dạy nghề huyện Tri Tôn, quy mô 800 học viên, đào tạo 9 nghề. Trong năm 2009 tuyển sinh 400 học viên, đào tạo 8 nghề. Từ năm 2006 đến nay, đã có 1.085 thanh niên dân tộc thiểu số chủ yếu là dân tộc Khmer được đào tạo các nghề phổ thông như: may công nghiệp, may dân dụng, nuôi bò thịt, bò sinh sản, bò sữa, trồng chế biến bảo quản các loại nấm, nuôi heo thịt, heo sinh sản, điện dân dụng, … Sau khóa học, một số lao động được tư vấn giới thiệu việc làm ra ngoài tỉnh hoặc xuất khẩu lao động, số còn lại tham gia lao động tại địa phương.

Toàn tỉnh hiện có 1 trường Trung học phổ thông Dân tộc nội trú đặt tại thị trấn Tri Tôn, qui mô đào tạo 700 học sinh; 1 trường Trung học cơ sở Dân tộc bán trú đặt tại thị trấn Chi Lăng, huyện Tịnh Biên, qui mô đào tạo 400 học sinh. Các học sinh trường Phổ thông Dân tộc nội trú và trường Trung học cơ sở bán trú từ lớp 6 đến lớp 11 đều được học tiếng Khmer trong chương trình chính khóa.

Trong 8 huyện có người dân tộc, hệ thống y tế cơ sở đuợc kiện toàn từ huyện xuống tận khóm, ấp. Riêng tại 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, ở tuyến huyện có 03 cơ sở y tế: Phòng y tế huyện, bệnh viện đa khoa huyện, trung tâm y tế dự phòng huyện; 100% xã, thị trấn đều có trạm y tế và có đủ cán bộ phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. 100% trạm y tế có nữ hộ sinh, 79% trạm y tế xã có bác sĩ. huyện Tịnh Biên có 11/14 xã đạt chuẩn y tế quốc gia, huyện Tri Tôn có 12/15 xã đạt chuẩn y tế quốc gia. Lực lượng cán bộ y tế người dân tộc Khmer trong toàn tỉnh là 67 người, chiếm tỉ lệ 12,8% so với tổng số cán bộ y tế toàn tỉnh.

Đài Phát thanh truyền hình tỉnh có chương trình phát thanh và truyền hình tiếng dân tộc Khmer vào 2 buổi trong ngày. Các huyện trong tỉnh có đài truyền thanh, ở xã có trạm truyền thanh. Tất cả các xã trong vùng đồng bào dân tộc đều được trang bị loa truyền thanh, hoạt động 2 buổi trong ngày. Công tác thông tin cổ động qua hình thức phát thanh, pano, áp phích ở vùng đồng bào dân tộc đều được phát và in bằng 2 thứ tiếng Kinh và Khmer. Các lễ hội văn hóa dân tộc truyền thống của đồng bào dân tộc như: Tết Chôl-Chnăm-Thmây, Đôn ta của đồng bào dân tộc Khmer đều được tỉnh quan tâm tổ chức chu đáo. Hàng năm, Sở Văn hóa - Thông tin, Ban Dân tộc tỉnh và các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, phối hợp tổ chức "Ngày hội Văn hóa dân tộc Khmer tỉnh An Giang" tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho đồng bào dân tộc đón Tết.

Về chính sách cán bộ dân tộc thiểu số để nâng cao hiệu quả hoạt động, công tác đào tạo và sử dụng cán bộ người dân tộc cũng được quan tâm thực hiện. Toàn tỉnh hiện có 607 cán bộ dân tộc Khmer (riêng 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên có 409 người), trong đó có trên 100 người có trình độ đại học, trên 300 người có trình độ cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, trên 150 người có trình độ cao cấp, trung cấp lý luận chính trị. Các trưởng đầu ngành cấp xã, bí thư chi bộ ấp đa số đã được đào tạo qua các lớp sơ cấp, trung cấp chính trị tại trường chính trị huyện. Hội đồng nhân dân 3 cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009 ở 02 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên có 162  đại biểu dân tộc Khmer, trong đó có 04 đại biểu cấp tỉnh, 12 đại biểu cấp huyện, 146 đại biểu cấp xã.

Với những kết quả đạt được từ các chương trình đầu tư vùng đồng bào dân tộc và sự quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền địa phương đã làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn, miền núi vùng đồng bào dân tộc, giúp bà con người dân tộc tiếp cận được các dịch vụ thiết yếu trong đời sống; đồng thời nâng cao mức hưởng thụ về văn hóa, tinh thần. Các nhu cầu thiết yếu về đời sống của đồng bào dân tộc Khmer được quan tâm chăm lo, góp phần xóa đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao mức sống cho người dân trong khu vực. Đi đôi với kết quả việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc, miền núi được duy trì ổn định; hệ thống chính trị ở cơ sở từng bước được củng cố, kiện toàn. Hàng trăm cán bộ cơ sở xã, ấp trong vùng đồng bào dân tộc Khmer ở An Giang được đào tạo, tập huấn qua các Chương trình, dự án của Chính phủ, của tỉnh; hàng trăm con em người dân tộc được vào học ở các trường Trung học phổ thông Dân tộc nội trú của tỉnh được đưa đi đào tạo ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, dạy nghề của Trung ương và tỉnh, thông qua chế độ cử tuyển đại học, dự bị đại học dân tộc... sẽ trở thành lực lượng lãnh đạo nòng cốt của địa phương trong tương lai.

Nhìn chung đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là hộ dân tộc Khmer được cải thiện đáng kể, tỷ hộ dân tộc nghèo giảm, nhưng số phát sinh nghèo mới lại tăng; số hộ dân tộc nghèo không có đất sản xuất và thiếu đất sản xuất, cũng như trước đây có đất sản xuất nhưng đã cầm cố cho hộ khác có xu hướng ngày càng tăng, tập trung chủ yếu ở hai huyện miền núi Tri Tôn, Tịnh Biên. Điều này cho thấy còn tiềm ẩn nhiều bất ổn, cần có giải pháp đồng bộ, quyết liệt hơn để ổn định đời sống hộ dân tộc thiểu số. Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ nhà ở, điện, nước sinh hoạt tuy đã được triển khai thực hiện kịp thời, nhưng cũng còn nhiều hộ dân tộc nghèo thiếu đất ở, thiếu nhà ở và thiếu nước sinh hoạt…

Nguyên nhân chủ yếu do trình độ dân trí vùng đồng bào dân tộc còn thấp, tỷ lệ hộ dân tộc không biết đọc, viết chiếm 25,47%; số đông lao động thiếu việc làm, do thiếu tay nghề hoặc tay nghề còn yếu; tập quán sản xuất và sinh hoạt của đồng bào dân tộc một số nơi còn lạc hậu, chậm được chuyển biến để thích ứng với thời đại và cơ chế thị trường…. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp thiếu chặt chẽ; chưa có sự lồng ghép một cách có hiệu quả thông qua các chương trình, dự án đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc; dẫn đến việc đầu tư đôi lúc còn dàn trải, thiếu tập trung, làm hạn chế khả năng phát huy tác dụng; đời sống đồng bào dân tộc còn quá khó khăn, trình độ văn hóa kém, nhận thức về pháp luật kém; mặt khác, có sự tác động, lôi kéo của một số phần tử xấu làm cho tình hình khiếu kiện trên địa bàn diễn biến khá phức tạp.

Trong thời gian tới, Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh An Giang đã tiếp tục đề ra các giải pháp đồng bộ tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc Khmer, nhất là ở hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên. Thông qua việc thực hiện các chương trình, dự án, các chính sách hỗ trợ của Trung ương và của tỉnh, tạo điều kiện cho các hộ dân tộc phát triển kinh tế gia đình, ổn định cuộc sống; cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào Khmer nói riêng, nhất là hộ nghèo; tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ để họ ổn định cuộc sống, từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số; phát huy truyền thống đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo, thực hiện nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau, cùng chăm lo cho công tác xã hội, chăm lo cho sự phát triển cộng đồng của các dân tộc; kiện toàn hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc, đảm bảo đủ sức lãnh đạo, quản lý nhằm chăm lo đời sống cho đồng bào dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội vùng.

        Ngô Quang Hải
(Vụ Tuyên truyền)

In ấn  Quay lại
Các tin khác:
  • Bảo Lạc đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản - (14/11)
  • Quảng Ngãi: 438 học sinh nghèo hiếu học nhận học bổng từ Quỹ vì người nghèo - (13/11)
  • Xã Triệu Thuận: Nỗ lực xây dựng nông thôn mới - (13/11)
  • Mai Sơn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở cho các bản đặc biệt khó khăn - (13/11)
  • Năm 2012 giảm thêm được 10 xã nghèo - (08/11)
  • Trao đổi kinh nghiệm triển khai chương trình 135 - (08/11)
  • Sử dụng, quản lý hiệu quả nguồn vốn Chính phủ - (08/11)
  • Pác Nặm huy động nhiều nguồn lực để xóa đói, giảm nghèo - (08/11)